Kỹ thuật trồng cây địa hoàng (sinh địa)

Địa hoàng (sinh địa) là một vị thuốc quý với tác dụng điều trị thiếu máu, kinh nguyệt không đều, cơ thể gầy gò, ốm yếu. Ngoài nguồn có sẵn trong thiên nhiên, địa hoàng còn được dùng để phục vụ nhu cầu sử dụng ngày càng cao vị thuốc này.

Giới thiệu về cây thuốc Địa hoàng

Còn có tên gọi là cây sinh địa, cây địa hoàng hoài.

Là loại cây thân cỏ, sống nhiều năm, toàn thân cây có lông trắng, mềm. Thuộc cây rễ củ, mỗi cây có 5-7 củ, củ có cuống dài, vỏ củ màu đỏ nhạt. Cây cao 20- 30cm. Lá thường mọc tụm ở các đốt thân dưới gốc cây. Lá hình trứng lộn ngược hình bầu dục dài, đuôi lá tù, mép lá có răng cưa không đều nhau, lá có nhiều nếp răn, lá dưới gốc dài hẹp. Hoa tự mọc thành chùm trên ngọn thân dài, đài hình chuông, bên trên nứt thành 5 cánh; tràng hình ống hơi uốn cong, đầu khía 5 cánh, giống như hình môi, mặt ngoài màu đỏ tím, mặt trong màu vàng có vân tím. Nhị cái 1, nhị đực 2. Quả bế đôi, hình trong trứng, cánh đài bao úp. Nhiều hạt, hình trứng, bé nhỏ, màu nâu nhạt.

Khả năng sinh trưởng của sinh địa tương đối yếu, chỉ thích nghi với điều kiện khí hậu ôn hòa, đủ ánh sáng, thoát nước tốt, đất sâu, màu mỡ, tơi xốp; cây sinh địa trồng trên các vùng đất đai khí hậu như vậy cho vỏ củ mịn, chất lượng củ cao.

Trồng ở nơi râm bóng hoặc đất thịt (sét) cây phát triển kém, vì đất quá dính, quá cứng, phần cây trên mặt đất không thể mọc tốt được, và củ dễ thành hình tròn dẹt hoặc hình thù kỳ quái, chất lượng kém.

Cây địa hoàng, sinh địa

Cách gây giống cây địa hoàng

Có hai phương pháp: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính.

1. Nhân giống hữu tính:

Nói chung trong công tác chọn, tạo giống người ta thường dùng phương pháp nhân giống hữu tính. Trước hết chọn những cây trồng hoặc cây mọc hoang dại có hoa kết quả, lấy hạt đem gieo. Thông thường thì dùng phương pháp gieo vãi, sau khi cây mọc được 1 năm thì có thể đánh cây con đi trồng, lúc trồng có thể chọn những cây gốc to, mọc khỏe; chọn liên tục trong 3 năm, so sánh với những cây trồng sẵn có. Nếu cây cho sản lượng cao và ổn định, thì sẽ được loại giống tốt, đem gây giống hàng loạt. Theo kinh nghiệm của nhân dân, những loài được chọn như vậy, sản lượng cao hơn 30-40% loài bố mẹ. Nhưng nói chung, trong sản xuất phần lớn là dùng phương pháp nhân giống vô tính.

2. Nhân giống vô tính:

Là dùng củ có đường kính từ 1- 1,5cm để làm giống, có 3 cách để giống:

Vào khoảng trung tuần tháng 8 (tiểu thử-lập thu), vụ địa hoàng mùa thu năm đó, chọn những cây khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, đào lên chọn lấy những củ to như ngón tay cái bẻ thành những đoạn dài độ 3cm, để một lúc cho se khô chỗ vết bẻ, sau đó đem đi trồng theo khoảng cách giữa các hàng 17×7-10cm, đặt sâu độ 3cm, sau đó lấp đất dày độ 3-5cm, 4-5 ngày sau khi trồng nên tưới nước, nếu gặp phải lúc khô hạn mà mầm chưa mọc lên khỏi mặt đất cần tưới nước kịp thời, nếu không sẽ ảnh hưởng tới tỷ lệ mọc.          *

Nhưng nếu tưới nước quá nhiều, mặt đất dễ bị đóng váng, mầm cây khó mọc lên khỏi mặt đất, do đó phải giữ cho đất đủ độ ẩm, mặt đất tơi xốp tạo thuận lợi cho mầm mọc. Sau khi trồng 8 – 10 ngày là mầm mọc, từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 đào thu hoạch củ, để củ ở chỗ thoáng, sau đó dùng đất cát phủ đống lại, cao khoảng 30-50cm; hoặc đào hố ở chỗ mát để cất củ giữ giống.

Nên chọn chỗ đất cao ráo, thoát nước tốt, và chưa trồng địa hoàng bao giờ để đào hố cất giữ giống. Hố sâu độ 67cm, dài và rộng bao nhiêu tùy tình hình số lượng giống mà xử lý. Kỹ thuật xếp như sau: trước hết dưới đáy hố rải một lớp cát vàng, dày độ 7-10cm, cát vàng không được quá ẩm sẽ làm cho củ bị thối; trên rải một lớp củ, dày 7-10cm, cứ như thế tiếp tục đến lúc đầy hố. Cũng có khi không cất giữ trong hố như vậy, mà chất đống củ theo từng lớp, nhưng cũng cần chọn đất cát tương đối khô, nếu không cũng sẽ làm cho củ thối.

Nhưng cũng có lúc không thu hoạch củ giống năm đó mà để đến mùa xuân năm sau đào lên đến đâu chọn giống trồng ngay đến đó, đó là địa hoàng xuân (tức là địa hoàng sớm). Còn củ dùng để làm giống cho địa hoàng muộn thì phần lớn là thu hoạch vào hạ tuần tháng 8 giáp thu), chọn củ của những cây khỏe làm giống, trồng đến đầu xuân sang năm thì thu hoạch.

Lúc thu hoạch địa hoàng, những cây địa hoàng muộn mọc kém không thu hoạch năm đó, để lại ruộng lúa mùa đông. Lúc cần giống mùa xuân năm sau thì đào chọn lấy những củ nhỏ làm giống trồng, sản lượng tương đối thấp, phương pháp này rất ít dùng.

Vào thời gian thu hoạch sinh địa hàng năm, chọn lấy củ nhỏ mập, không bị sây sát. Không đem chế biến, để thành đống nhỏ trên phủ cát giữ ở góc nhà hoặc đào hố để bảo quản qua đông, đến mùa xuân năm sau lấy ra bẻ thành khúc nhỏ dài độ 3cm để làm giống trồng. Hiện nay vì giống thiếu, cho nên phần lớn dùng phương pháp này để gây trồng.

Trong các phương pháp trên: phương pháp thứ nhất trồng được sản lượng cao, chất lượng dược liệu tốt.

Dù là giống của địa hoàng vụ sớm hay địa hoàng vụ muộn cũng đều nên chọn đoạn giữa củ để làm giống vì đoạn giữa mầm mọc nhanh mồ đều, còn phần đầu củ cây mọc tương đối kém, phần đuôi củ cây mọc kém nhất. Đồng thời nên chú ý không dùng những củ nằm sát mặt đất, những củ nhỏ, những củ bị bệnh nếu không sẽ dẫn tới hiện tượng thoái hóa vể giống.

Chọn đất và làm đất

1. Chọn đất:

Vì sinh địa rất dễ bị nhiều loại bệnh phá hoại cho nên lúc chọn đất trồng không nên chọn đất vụ trước trồng các loại họ cà và một số loài cây họ bầu bí, rau cải, cà rốt hoặc thiên nam tinh, vì những loài cây này có nhiều bệnh hại giống như sinh địa, về sau dễ lây truyền sang cây sinh địa, làm cho đất trồng ngày càng có nhiều mầm mống bệnh. Mặt khác, căn cứ vào kinh nghiệm của nhân dân thì các loại cây trồng trước trên đất đó, tốt nhất là các loại cây ngũ cốc như ngô, các loại lúa mạch.

Nếu trên đất trồng vụ trước đã gieo trồng vừng, bông và các loài đậu thì sau này trồng sinh địa dễ bị nhện đỏ phá hại nặng. Đất trồng sinh địa nhất thiết không được trồng liên canh, trồng liên tục vụ này sang vụ khác dễ bị bệnh hại nặng, nói chung cứ cách 5-7 năm sau mới trồng sinh địa hoàng lại trên đất đó. Những cây trồng xung quanh chỗ đất trồng sinh địa cần phải chú ý, theo kết quả quan sát bước đầu thì cây trồng bên cạnh không nên trồng ngô và các loài cây có thân cao, dễ che mất ánh sáng của sinh địa, làm cho cây sinh địa mọc kém.

2. Làm đất:

Sinh địa ưa trồng nơi đất tơi xốp, sâu, nhiều màu. Nếu cày nông thì lớp đất dưới không được lật, củ không đâm sâu xuống dưới đuợc, ảnh hưởng tới sản lượng. Trước khi cày đất, mỗi mẫu cần phải bón 3.000-5.000kg phân bón lót sau đó cày sâu trên 33cm. Nếu trồng sinh địa vụ xuân thì phải cày đất vào vụ thu năm trước, làm cho đất ải, tăng thêm độ màu mỡ, giảm bắt sâu bệnh hại và cỏ dại. Đến thời vụ trồng thì cày bừa làm kỹ đất và đánh luống; có hai loại luống: luống hình mu rùa và luống mặt bằng. Luống mặt bằng rộng 1,2-1,3 m, dài 10-12m là vừa; nếu quá dài quá rộng, lúc tát nước vào ruộng thời gian nước chảy khắp ruộng tương đối lâu, lượng nước ngấm mất nhiều, hoặc vì mặt luống quá rộng khó san bằng, dễ bị úng nước, không có lợi cho cây sinh trưởng; mặt luống rộng nên san hơi nghiêng, chỗ đưa nước vào hơi cao, hai đầu chênh lệch nhau độ 7cm, đầu thấp nên có chỗ tháo nước để đề phòng đọng nước. Nên đánh luống cao bừa kỹ, san bằng mặt đất, trồng cây theo khoảng cách 40x40cm, trồng xong cứ cách hai hàng cây đánh một rãnh, đất ở rãnh trải lên mặt luống (rạch); trồng sinh địa luống cao, rãnh sâu ruộng khó bị úng.

Tiến hành trồng địa hoàng (sinh địa)

1. Thời vụ trồng:

Có hai thời vụ trồng địa hoàng: địa hoàng sớm (địa hoàng xuân) và địa hoàng muộn (địa hoàng thu). Địa hoàng xuân thì trồng vào đầu tháng 4 (trước sau tiết thanh minh, thời kỳ sinh trưởng 160 ngày); địa hoàng muộn (hay địa hoàng thu) thì trồng vào cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 (từ tiểu mãn đến mang chủng), tức là sau khi thu hoạch đại mạch thì trồng ngay, thời kỳ sinh trưởng 140 ngày. Sau khi thu hoạch tiểu mạch cũng có thể trồng địa hoàng thu, nhưng thời kỳ sinh trưởng tương đối ngắn, sản lượng thấp. Nhân dân thường có câu nói “địa hoàng sớm nên trồng muộn, địa hoàng muộn cần trồng sớm”.  Ý nói là nếu trồng địa hoàng sớm thì đến tháng 8 cây dễ bị bệnh cuốn lá xanh. Nhưng theo kết quả theo dõi bước đầu, dù là địa hoàng sớm hay địa hoàng muộn, nếu cây phát triển mạnh, nhiều lá, trong tháng 7 hay bị sâu bệnh phá hại: chủ yếu là bọ nhảy và bệnh cuốn lá xanh; nếu tháng 7 cây còn nhỏ thì sâu phá hại ít, bệnh cuốn lá xanh cũng nhẹ (địa hoàng sóm nên trồng muộn).

2. Kỹ thuật trồng:

Mặt luống sau khi đã san bằng, trồng cây hàng nọ cách hàng kia 40-50cm, cây cách cây 33-40cm, hàng thứ hai trồng cây so le với hàng thứ nhất, thành hình hoa mai, mỗi mẫu trồng độ 3.500 – 5.000 cây, hết độ 15-20kg củ giống. Nếu hàng cách nhau 33-40cm, cây cách nhau 20-33cm thì 1 mẫu có thể trồng được 7.000-10.000 mầm, hết 30 – 40kg củ giống. Trồng như vậy, có thể nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích.

Các phương pháp trồng: trong khi đã san bằng mặt luống, cuốc hốc trồng theo khoảng cách đã định sẵn. Sau khi trồng xong, lấp đất vào hốc cao hơn mặt luống, để khi tưới nước, mặt đất không bị đóng thành váng ảnh hưởng đến sự mọc mầm. Khi cây đã mọc khỏi mặt đất, thì san đất cho bằng mặt luống.

Đánh những rãnh theo dọc luống, sâu từ 3-5cm đặt giống theo khoảng cách đã định sẵn vào rạch, dùng cuốc hót nhẹ đất hai bên rạch phủ lấp giống, tạo thành những rãnh mới, sau này khi cần tưới nước thì tưới nước thẳng vào rạch, dân gọi là “tưới chồi”. Khi đại bộ phận mầm đã mọc khỏi mặt đất thì san bằng mặt luống, như thế giữ cho đất ẩm lâu lại không vì tưới (tát) nước mà làm cho mặt đất đóng váng, vì thế cây mọc dễ, tỷ lệ mọc cũng cao.

Trồng trên luống cao, trước khi trồng soi rạch sâu theo khoảng cách giữa các hàng 13-17cm, trên các rạch trồng so le vào hai bên luống theo khoảng cách đã định, sau khi trồng lấp đất dày 3cm. Cái lợi của cách trồng này là lúc khô hạn có thể tưới nước vào trong rãnh (rạch) lúc mưa to dễ thoát nước, đất không bị úng; mặt khác trồng luống cao, cây có được nhiều ánh sáng.

Chăm sóc địa hoàng

1. Vun xới làm cỏ

Sau khi cây mọc đều thì bắt đầu làm cỏ vun xới 1 lần, lúc vun xới cần phải hết sức chú ý, không được làm long gốc cây, để cây không bị chết. Nói chung vun xới 3 lần, đến lúc lá che kín đất thì thôi, không vun xới nữa, về sau nếu có cỏ thì lấy tay nhổ, xới đất sâu độ 1,5- 3cm là vừa. Có nơi chỉ vun xới làm cỏ một lần sau khi ruộng cây mọc xong, về sau thì lấy tay nhổ cỏ, người ta cho rằng lấy cuốc vun xới làm cỏ sẽ làm cho rễ, củ dễ bị tổn thương giảm sản lượng; nhưng căn cứ vào kết quả quan sát, củ địa hoàng mọc xiên vào đất tạo thành một góc 45° nếu xới đất sâu độ 3cm thì rễ không bị tổn thương. Do đó nên vun xới cho địa hoàng, nhưng là xới nông.

Lúc vun xới cần kết hợp tỉa cây, ngắt hoa. Sau khi cây đã mọc xong, lúc cây đã có đường kính tán lá từ 10 -13cm, thì tỉa cây, để lại những cây khỏe tốt, nhổ bỏ cây yếu, xấu. Lúc tỉa cần phải dùng dao con hay kéo mà cắt bỏ hết phần thân cây trên mặt đất, không nên dùng tay nhổ, lúc nhổ dễ làm cho cây bên cạnh bị long gốc và chết. Không nên để quá muộn mới tỉa, ảnh hưởng tới sinh trưởng của những cây khỏe, đến năng suất củ. Ngoài ra, lúc thấy cây có nụ hoa, lập tức ngắt bỏ đi để tập trung dinh dưỡng cung cấp cho cây và củ.

2. Tưới nước

Địa hoàng ưa đất mát. Sau khi trồng 3-4 ngày, cần tưới nước một lần, về sau lúc nào thấy mặt đất khô thì lại tưới. Thời kỳ đầu cây mọc tương đối nhanh nên cần nhiều nước; thời kỳ sau củ phát triển mạnh hơn, cũng cần đủ nước, nhưng lượng nước không nên quá nhiều, nếu không củ dễ bị thối, lúc này nhất thiết không được ứng đọng nước, cho nên sau khi mưa cần phải chú ý tháo nước kịp thời, để tránh thối củ. Nói chung trong suốt quá trình sinh trưởng của cây nên tưới nước độ 5-6 lần.

Để giữ cho đất luôn luôn mát, việc tưới nước phải thực hiện 3 lần.

+ Sau khi bón phân thúc cần phải tưới nước. Phân dùng để bón thúc tuyệt đại đa số là phân khô, nếu không tưới thì không thể phát huy được kịp thời khả năng của phân; nếu không bón phân khô thì có thể bón phân nước như thế là đã kết hợp tưới nước luôn, tiết kiệm được nhân công.

+ Lúc trời khô hạn phải tưới nước.

+ Trời nắng to sau khi mưa, nhiệt độ đất lên cao, đất khô cần phải tưới nước.

Không tưới nước trong ba trường hợp sau:

  • Mặt đất khô.
  • Trời râm.
  • Buổi trưa đất nóng.
  • Bón phân

Cây địa hoàng cần nhiều phân, nhất là phải bón đủ phân lót. Trước khi cày đất, phân lót nên bón vãi trên mặt đất, sau đó cày lẫn vào đất, mỗi mẫu bón độ 5.000kg, nhiều hơn thì càng tốt. Phân bón lót phần lớn là dùng phân chuồng và phân rác, theo kinh nghiệm thì bón phân dê rất tốt. Cũng có thể bón 100-150kg khô dầu trước khi trồng (cho mỗi mẫu) làm phân bón lót. Bón phân thúc hai lần: lần thứ nhất khi cây mọc cao 7-10cm, lần thứ hai khi cây mọc cao 17-20cm, và thường bón bằng phân bắc pha nước hay phân khô dầu hoai. Phân khô dầu bón 100kg, nước phân bắc số lượng bón không hạn chế, cũng có nơi không bón phân thúc. Phân khô dầu có thể thay bằng phân hóa học. Mỗi mẫu bón 10kg phốt phát can xi, 12,5kg ka li, 15kg sulfat đạm, chia làm hai lần bón.

Kỹ thuật bón phần lớn là bới một hố nhỏ bên cạnh gốc cây, bỏ phân vào trong hố đó, san lấp đất lên trên. Khi cây đã mọc cao độ 33cm, moi hố dễ làm hỏng rễ cây, nên không cần bón nữa, nếu cần bón thì tưới nước phân.

Vào khoảng giữa tháng 9 lá ngả sang màu vàng, tức là cây đã ngừng sinh trưởng. Bón đủ phân không có quan hệ tới thời gian ngừng sinh trưởng của cây, nếu bón ít phân, thiếu dinh dưỡng, cây sẽ ngừng sinh trưởng sớm, nếu bón đủ phân thì thời kỳ ngừng sinh trưởng muộn hơn hoặc không ngừng sinh trưởng; nhân dân địa phương có kinh nghiệm cho rằng địa hoàng không ngừng sinh trưởng. Nhưng căn cứ vào quan sát, sản lượng cao hay thấp, cây ngừng sinh trưởng sâm hoặc muộn hoặc không ngừng sinh trưởng, nếu bón đủ phân cây phát triển tốt, năng suất cao.

3. Giâm cây

Nếu giống xấu, số cây mọc ít, mọc không đều hoặc bị sâu bệnh phá hại gây nên hiện tượng thiếu cây, cần giâm cho đủ. Kỹ thuật giâm như sau: chọn ngày râm mát xem hố nào có 2 cây thì lấy chiếc xén đánh 1 cây trồng giậm vào chỗ thiếu cây. Tỷ lệ sống có thể trên 90%. Nếu đánh cây giậm vào ngày nắng, trước hết nên tưới nước vào hố thiếu cây, chờ đến chiều tối thì giậm cây, đồng thời nên che cho cây để cây không bị nắng chết. Công việc giâm cây tốt nhất là tiến hành sớm, không nên để muộn, nếu không sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất của cây.

Phòng trừ sâu bệnh

Sâu bệnh hại địa hoàng tương đối nhiều, trong ba tháng 7, 8, 9 là nghiêm trọng nhất. Nếu vụ địa hoàng sớm cây mọc um tùm trong tháng 7, 8 thường bị sâu bệnh hại khá nặng. Địa hoàng muộn lúc này cây còn bé, bị sâu hại nhẹ hơn.

1. Sâu hại

Sâu phá hại địa hoàng nặng nhất là nhện đỏ, sâu xanh, sâu non của họ ngài đêm, sâu xám, sâu mũi nhọn.

+ Nhện đỏ: Phần lớn phát sinh vào tháng 6, 7 và tháng 9, 10, sau khi phát sinh phá hoại cây rất nặng. Phương pháp phòng trừ chỉ mang tính chất tạm thời: tát nước vào đầy ruộng hoặc cắt bỏ hết các phần cây, lá trên mặt đất, tuy nhiên sau khi xử lý như vậy, vẫn bị thiệt hại rất lớn.

Dùng vôi lưu huỳnh 0,3 và dùng thuốc E605 pha theo tỷ lệ 1/10.000 để phun.

+ Sâu xanh (ỏ đây người ta gọi là sâu sinh địa); ăn hại lá, từ cuối tháng 6 đến tháng 10 xảy ra 3-4 đợt, tháng 8 phát sình nhiều nhất, lúc nghiêm trọng sâu có thể ăn trụi hết lá. Trứng cùa nó đẻ thành tổ ố dưói mặt lá, sâu non lúc đầu mối nỏ, phần lớn tập trung trên mặt lá, lúc này là thời cơ dễ tiêu diệt, về sau, sâu lớn ăn nhiều, phá hoại nặng, thường ăn trụi hết lá cây. Phòng trừ: có thể dùng lkg thuốc 666 thấm nước 6% pha với 200kg nước để phun.

+ Sâu hại thuõc họ ngài đêm: Có loài màu xanh, cũng có loài màu đen hoặc màu nâu, nông dân thường gọi là sâu xanh, là loài sâu tạp thực. Sâu non tương đôi nhỏ có thể dùng thuốc 666 thấm nước pha với 200 lít nước để phun; sau khi lớn chúng có sức chống đd thuốc 666 rất khỏe, có thể dùng DDT thấm nước trộn đều hòa vào 400kg nưổc khuếy đều đem phun, hoặc dùng thuốc sữa DDT 25% lkg hòa vào 180kg nước đem phun đều có hiệu quả.

+ Sâu hại dưới đất: Lúc làm đất có thể dùng bột 666 0,5% vãi lên mặt đất, cày lẫn vào trong đất, có thể giết được sâu hại trong đất. Mỗi mẫu vãi 15-20kg bột 666 0,5%. Trong thời kỳ sinh trưởng, có thể vãi bả độc để diệt trừ. (Hiện nay thuốc 666 không được sử dụng)

2. Bệnh hại

Bệnh hại của địa hoàng có rất nhiều như bệnh gỉ đất, bệnh cuốn lá xanh, bệnh đốm lá và bệnh sùi củ.

+ Bệnh gỉ đất: Còn gọi là bệnh “cây con già” tức là trong điều kiện khô hạn, lá bị bệnh có màu xanh tối, cây không lớn được, nếu lúc này có mưa kịp thời thì cây vẫn có thể tiếp tục phát triển, không bị thiệt hại mấy. Bệnh gỉ đất thường xảy ra đồng thời với việc phát sinh nhện đỏ.

+ Bệnh cuốn lá xanh: Vào đầu tháng 8, lá già có những chấm lốm đốm nhỏ hình dáng không nhất định.

Lá bị bệnh khô héo, mép lá uốn cong theo gân chính giữa, còn giữa lá thì vẫn xanh nguyên cho nên gọi là bệnh cuốn lá xanh. Bệnh này lúc nặng, toàn bộ lá cây đều bị héo khô, cây bị chết. Trong điều kiện ẩm ướt lúc bệnh xảy ra nặng, ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng.

+ Bệnh đốm lá: Thường gọi là bệnh đốm khô, đây là bệnh do nấm gây ra, hay phát sinh vào đầu tháng 7 đến đầu tháng 8. Triệu chứng của bệnh là trên lá có những đốm bệnh hình tròn đồng tâm, điểm đốm này khá lớn, bệnh lây lan rất nhanh. Phòng trừ bệnh này có thể dùng dung dịch boc đô 1:1:140, Trước khi và thời gian đầu bệnh mới xảy ra, tiến hành phun phòng bệnh; sau khi phun thuốc này, nếu không mưa thì có thể giữ được công hiệu 20 ngày, về sau cồn thì nên tiếp tục phun để đề phòng truyền nhiễm. Bệnh này chủ yếu là do nước mưa làm lây lan bệnh.

+ Bệnh sùi củ (thôi củ): Lúc cây mọc cao từ 27-33cm, các bộ phận trên mặt đất như cây, lá úa héo dần, lá biến thành màu đỏ, về sau toàn bộ cây chết một cách từ từ. Bệnh này do nấm bệnh truyền nhiễm, nếu đào gốc cây lên kiểm tra thì bệnh phát ra từ củ. Lúc trồng, nếu phát hiện củ có bệnh này, cần phải loại ngay không được dùng làm giống.

Triệu chứng của bệnh: khi vỏ củ giống thấy có một nốt đen nhỏ, hoặc sau khi bẻ gảy ngang củ thì thấy giữa tâm củ có vệt đen, cần phải loại bỏ tất cả để đề phòng bệnh truyền nhiễm. Lúc phát sinh ra bệnh này, phần cây trên mặt đất chết, trong tháng 8 bị nặng nhất.

Còn một loại bệnh thôi củ nữa, lúc thu hoạch thấy củ có chỗ nứt là chỗ bệnh xâm nhập vào, chỗ sâu cắn và chỗ mắt chồi là chỗ ổ gây bệnh. Lúc đầu vỏ bị biến thành màu đen, về sau làm cho ruột và toàn bộ củ biến thành màu đen; thời kỳ đầu phát bệnh lúc củ chưa có màu đen, củ còn chắc, chưa bị thối nát nhũn, củ bị loại bệnh này sau khi chế biến vỏ củ răn reo lại, thịt củ rất cứng, không có một ít dầu nào, phẩm chất giảm rất nhiều.

Thu hoạch và chế biến

Vì thời kỳ trồng khác nhau, cho nên thời gian thu hoạch cũng khác nhau, Địa hoàng vụ sớm bắt đầu thu hoạch vào đầu tháng 10, thu hoạch muộn thì vào cuối tháng 10 đến đầu tháng 11. Lúc thu hoạch trước hết cần cắt bỏ hết lá, thân cây từ đầu luống cuốc một rạch sâu 33cm gạt đất sang một bên lại tiếp tục lấy đất đào củ. Củ sau khi đào lên, lại lấp đất vào rãnh, cứ như thế tiếp tục đến lúc hết. Lúc đào cần phải hết sức cẩn thận, vì củ địa hoàng rất ròn, không nên đào vội vàng để tránh xảy ra gãy củ, ảnh hưởng tới chất lượng.

Sau khi thu hoạch về, nên chế biến ngay, nếu không thì thời gian chất đống quá dài, củ dễ bị thối. Chế biến địa hoàng có hai cách: sấy khô và phơi khô. Địa hoàng sấy khô chất lượng tốt, nhiều chất đầu; phơi khô thì ít dầu, nhẹ cân cho nên ít dùng. Lò sấy xây thành phòng có giàn. Nếu hai lò gần sát nách nhau thì mỗi lò phải có riêng một cửa đun, cửa lấy, cửa thông nhau. Lò dài l,8m, rộng l,2m, cao l,2m, tường* dày 13-17cm. cửa đun xây cao 25cm, rộng 23cm, xây ngang giữa tường, trong lò xây một hàng gạch đứng, hai bên hai hàng đứng nghiêng, trên đậy hai gạch. Chét mạch không cho lửa bốc lên và làm cho nhiệt toả đều, sức nóng trong lò giống nhau. Chỗ cao lm, trong lò có gác 4-5 đòn ngang, trên có lót giàn, giàn để đổ củ để sấy.

Lúc sấy trước hết phải tắt lửa, bên trên thì đổ củ vào giàn sấy, dàn đều củ, dày độ 33cm, sau đó nhóm lửa. Sấy độ 1-1,5 ngày trở một lần, về sau thì mỗi ngày trở hai lần. Lúc trở có thể nhặt củ đã khô. củ địa hoàng sau khi khô thì mềm nhũn ra, nếu chỉ thấy mềm mà bên trong có lõi cứng thì cần phải sấy tiếp tục cho thật khô mềm hết.

Khi sấy chú ý sấy bằng than không có khói. Lúc sấy cần chú ý không để lửa ảnh hưởng tới chất lượng, lúc mới bắt đầu sấy có thể cho to lửa, nói chung độ 65°c, hai ngày sau giữ ô mức 60°c. Lúc sắp về cuối thì giữ độ nóng trong lò độ 50oC. Nếu lửa quá bé thì nước đường sẽ chảy ra, chất lượng sẽ kém.

Quy cách phẩm chất

Loai 1: khô, có ánh dầu, tròn mình, mềm chắc, vỏ màu trắng xám hay màu nâu xám, trong màu nâu đen, mỗi 0,5kg có khoảng 16 củ, không lẫn tạp chất, không bị sâu mọt mốc.

Loại 2: khô, có ánh dầu, tròn mình, mềm chắc, vỏ màu trắng xám hay màu nâu xám, trong màu nâu đen, mỗi 0,5kg có 17-30 củ. Không lẫn tạp chất, không bị sâu mọt và mốc biến chất.

Loại 3: khô, có ít chất dầu, củ gày nhẳng, vỏ màu trắng xám hay màu nâu xám, trong màu nâu đen hay màu nâu vàng, mỗi 0,5kg có trên 30 củ. Không lẫn tạp chất, không bị sâu mọt, không bị mốc biến chất.

Bảo quản

Sau khi phân loại, đóng vào bồ, để ở chỗ khô ráo, thoáng gió, đề phòng bị sâu mọt, bị mốc. Nếu dùng tươi thì phải trộn với đất cát khô chôn vùi ở chỗ râm mát.

Sử dụng

Dùng làm thuốc tư âm bổ thận, thanh nhiệt lượng huyết, thông huyết mạch tiêu ứ, trị các bệnh thương hàn phát nhiệt khẩu kiệt, khái tấu, thổ nục huyết, nội thương bất túc, phụ nữ băng lậu hạ hạ huyết Cư sinh, địa tươi để trị bệnh thực nhiệt phiền kiệt, đại tì bất kết (táo bón).

Đọc thêm

Sản phẩm liên quan

Bài viết cùng chủ đề


MỜI BẠN ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN