Chỉ thanh toán tiền khi nhận hàng!

Hoa hòe và 21 bài thuốc hay trong dân gian

Giá bán: 180,000

Thêm vào giỏ hàng

Trong cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, trang 298 tác giả GS.TS Đỗ Tất Lợi đã mở đầu Chương VII: Các cây thuốc và vị thuốc hạ huyết áp bằng một vị thuốc có tên Hoa hòe. Như vậy, ngoài giảo cổ lam, nụ tam thất, hôm nay chúng ta lại được tìm hiểu thêm một vị thuốc quý nữa có tác dụng rất tốt cho căn bệnh cao huyết áp. Bài viết về cây hoa hòe được tác giả trình bày khá cụ thể, chi tiết, sau đây Thaoduoc.Net xin được tóm lược về đặc điểm sinh học, thành phần, tác dụng chữa bệnh và 22 bài thuốc liên quan đến hoa hòe. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Giới thiệu về cây hoa hòe

1. Tên gọi:

  • Tên khác: Hòe mễ, hòe hoa mễ, hòa hoa.
  • Tên khoa học: Sophora japonica L.
  • Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

Vị thuốc Hoa hòe hay hòe hoa (Flos Sophorae japonicae) là hoa chưa nở phơi hay sấy khô của cây hòe. Trong nhiều trường hợp còn dùng cả quả hòe hay hòe giác (Pructus Sophorac japonicae).

2. Mô tả cây thuốc:

Hoa hòe thuộc loại thân gỗ, thân cao đến 10m, thường mọc tự nhiên hoặc được trồng ở bờ đường, vườn nhà, khuôn viên cơ quan công sở, trường học, công viên… để tạo cảnh quan, bóng mát và thu hoa làm thuốc. Hoa thường nở vào các tháng từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch, mọc thành từng chùm dài 20 – 30cm, màu vàng trắng, khi phơi khô có màu vàng óng.

Cây hoa hòe

Cây hoa hòe

3. Bào chế:

1- Hoa hòe ở cây hòe càng lâu năm càng tốt, nên dùng lúc hoa chưa nở. Sau vàng trước khi dùng là tốt nhất.

2- Lúc hoa chưa nở, hái nụ hoa về sấy khô, có thể dùng sống hoặc sao vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa sao cháy tồn tính 7/10, để cầm máu (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Nhặt sạch lá, cành, lấy riêng nụ hoa cho vào thuốc sắc uống, hoặc sao cháy thành than dùng hoặc tán nhỏ cho vào thuốc hoàn tán (Đông Dược Học Thiết Yếu).

– Hòe Hoa Sao: Cho hoa hòe vào nồi, sao nhỏ lửa cho đến khi màu hơi vàng, lấy ra để nguội là được (Dược Tài Học).

– Hòe Hoa Thán: Cho hoa hòe vào nồi, dùng lửa mạnh đun nóng, sao cho đến khi gần thành màu đen (tồn tính), phun ướt bằng nước sạch, lấy ra, phơi khô (Dược Tài Học).

Hoa hòe tươi

Hoa hòe tươi

4. Thành phần hóa học của hoa hòe:

Trong hoa hòe có từ 6 – 30% Rutin (rutozit). Rutin là một glucozit, thủy phân sẽ cho quexitin hay quexetola C15H1007, glucoza và ramnôza.

Trong quả cũng có rutin. Rutin là một chất có tinh thể hình trâm nhỏ màu vàng hay trắng vàng, tan trong 10.000 phần nước, 650 phần rượu, tan nhiều trong rượu metylic và dung dịch kiềm, không tan trong ête clorofoc và benzen. Khi tan trong dung dịch kiềm, vòng cromon bị phá, dung dịch có màu vàng, nhưng tính chất không ổn định, thêm axit vào có thể kết tủa.

Rutin là một loại vitatnin P, có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Chữ P là chữ đầu của chữ perméabilité có nghĩa là thấm. Ngoài rutin có tính chất vitamin P ra, còn nhiều chất khác có tính chất đó nữa như esculozit, hesperidin (trong vỏ cam) v.v…

Rutin có tác dụng chủ yếu là bảo vệ sức chịu đựng bình thường của mao mạch. Thiếu chất vitamin này tính chất chịu đựng của mao mạch có thể bị giảm, mao mạch dễ bị đứt vỡ, hiện tượng này trước đây người ta chỉ cho rằng do thiếu vitamin C mà có, gần đây mới phát hiện sự liên quan đối với vitamin P.

Theo Parrot, cơ chế, tác dụng của vitamin P như sau: Vitamin P làm giảm sự phá hủy của adrenalin trong cơ thể. Đồng thời Parrot cũng phát hiện rằng adrenalin cũng có tác dụng tăng sức chịu đựng của mao mạch, nhưng tác dụng này đối với huyết áp lại không giống, cần tiêm 10 – 30 phút trước thì tác dụng mới xuất hiện và kéo dài vài giờ. Do đó Parrot cho rằng vitamin P cản trở sự phá hủy của adrenalin trong cơ thể vì thế sức chịu đựng của mao mạch được tăng cường.

Quả cây hoa hòe

Quả cây hoa hòe

Theo Hoàng Chiêu Đức (Trung nam y học tạp chí, 1952).

  • Nước sắc hoa hòe đã lọc bỏ rutin đi rồi vẫn làm giảm huyết áp của chó đã gây mê.
  • Có tác dụng hưng phấn nhẹ đối với tim cô lập của ếch.
  • Có tác dụng kích thích sự bài tiết của niêm mạc ruột.

Một tác giả khác (Trung quốc 1952) có nghiên cứu trên tử cung có thai và không có thai đều thấy có tác dụng kích thích và đối với chó gây mê có tác dụng lợi tiểu tạm thời.

5. Công dụng và liều dùng hoa hòe

Theo các tài liệu cổ được ghi chép lại thì hoa vị đắng tính bình, quả vị đắng tính hàn. Hoa vào 2 kinh can và đại tràng. Quả vào kinh can. Có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, chỉ huyết (hoa). Quả tính chất gần như hoa nhưng có thể gây ra thai. Dùng chữa xích bạch lỵ, trĩ ra máu, thổ huyết, máu cam, phụ nữ băng huyết.

Hiện nay nhân dân dùng hoa hòe làm thuốc cầm máu, dùng trong những bệnh ho ra máu, đổ máu cam, tiểu tiện ra huyết, ruột chảy máu. Ngày uống 5-20g dưới dạng thuốc sắc.

Rutin thường dùng cho bệnh nhân bị cao huyết áp mà mao mạch dễ vỡ, đứt, để đề phòng đứt mạch máu ở não, xuất huyết cấp tính do viêm thận, xuất huyết ở phổi mà không rõ nguyên nhân, còn có tác dụng đối với bệnh cao huyết áp. Rutin thường được chế thành thuốc viên, mỗi viên có 0,02g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên hoặc 2 viên (0,06 – 0,12g một ngày).

Hoa hòe khô

Hoa hòe khô

22 bài thuốc hay trong dân gian có vị hoa hòe

Bài 1. Chữa bệnh huyết áp cao:

Hoa hòe có tác dụng hạ huyết áp, người huyết áp cao có thể sử dụng hoa hòe đơn lẻ hoặc phối hợp với các vị khác.

  • Hòe hoa, Hy thiêm thảo, mỗi thứ 20 ~ 40g.
  • Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Bài 2. Trị chảy máu không cầm:

  • Hòe hoa, Ô tặc cốt, lượng bằng nhau,
  • Để nửa sống nửa sao, tán thành bột thổi vào nơi máu chảy (Phổ Tế Phương).

Bài 3. Trị thổ huyết không cầm:

  • Hòe hoa đốt tồn tính, bỏ vào một tý Xạ hương vào, trộn đều.
  • Mỗi lần dùng 12g uống với nước gạo nếp (Phổ Tế Phương).

Bài 4. Trị lưỡi chảy máu không cầm:

  • Hòe hoa tán bột, xức vào (Chu Thị Tập Nghiệm Phương).

Bài 5. Trị tiểu ra máu:

  • Hòe hoa sao, Uất kim (nướng), mỗi thứ 1 lượng tán bột lần 8g với nước sắc Đậu xị (Bí Tàng Phương).

Bài 6. Trị đại tiện ra máu:

  • Hòe hoa, Kinh giới tuệ, các vị bằng nhau tán bột, uống lần 4g với rượu (Kinh nghiệm phương).
  • Hoặc dùng Trắc bá diệp 3 chỉ, Hòe hoa 6 chỉ sắc uống hàng ngày (Tập giản phương).
  • Hoặc: Hòe hoa, Chỉ xác, các vị bằng nhau sao tồn tính tán bột, lần uống 8g với nước (Tụ Trân Phương).

Bài 7. Trị ho ra máu, khạc ra máu:

  • Hòe hoa sao, tán thành bột.
  • Mỗi lần uống 12g với nước gạo nếp, cúi ngửa một lát thì đỡ (Chu Thị Tập Nghiệm Phương).

Bài 8. Trị đi tiêu ra máu do độc của rượu:

  • Hòe hoa nửa sống nửa sao 40g,
  • Sơn chi tử 20g, tán bột uống lần 8g với nước (Kinh Nghiệm Lương Phương).

Bài 9. Trị sốt cao đột ngột tiêu ra máu:

Lòng lợn sống 1 cái rửa sạch phơi khô, lấy Hòe hoa sao tán bột bỏ đầy vào trong, lấy giấm gạo ngâm trong hũ sành nấu chín, làm viên bằng hạt đậu lớn phơi nắng, mỗi lần uống 1 viên lúc đói với rượu ngâm Đương quy (Vĩnh Loại Kiềm Phương).

Bài 10. Trị lỵ ra máu, trĩ ra máu:

  • Hòe hoa sao, tán bột, mỗi lần uống 12g với rượu, ngày uống 3 lần hoặc dùng vỏ trắng của cây Hòe hoa sắc uống (Phổ tế phương).

Bài 11. Trị rong kinh không cầm:

  • Hòe hoa sao tồn tính, mỗi lần uống 8- 12g với rượu nóng trước khi ăn (Thánh Huệ Phương).

Bài 12. Trị băng huyết không cầm:

  • Hòe hoa……….120g,
  • Hoàng cầm……80g, tán bột.
  • Mỗi lần uống 20g với một chén rượu (Càn Khôn Bí Uẩn Phương).

Bài 13. Trị ung thư phát bối, nhiệt độc ở trong người, váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, miệng khô, lưỡi đắng, hồi hộp, lưng nóng, tay chân tê, có sưng ở sau lưng:

Hòe hoa một mớ, sao cho thành màu nâu đen, ngâm với một chén rượu con, lúc rượu còn đang nóng thì uống, nếu chưa đỡ, uống tiếp, sau khi uống thì nhọt sẽ nhúm mủ lại (Bảo Thọ Đường Phương).

Bài 14. Trị trúng phong mất tiếng:

  • Hòe hoa sao, sau canh ba nằm ngửa nhai nuốt (Thế Y Đắc Hiệu Phương).

Bài 15. Trị trĩ ngoại:

  • Hòe hoa sắc rửa nhiều lần và uống thì sẽ teo lên (Tập Giản Phương).

Bài 16. Trị độc nhọt lở sưng tấy, tất cả các loại ung nhọt phát bối, chẳng kể là có mủ hay chưa, nhưng có tấy sưng nóng đau:

  • Hòe hoa sao qua.
  • Hạch đào nhân đều 80g.
  • Dấm 1 chén sắc uống.
  • Nếu chưa đỡ thì uống 2 -3 lần, đã vỡ mủ thì uống 1 -2 lần thấy hiệu quả (Y Phương Trích Yếu Phương).

Bài 17. Trị phát bối tán huyết:

Hòe hoa, Bột đậu xanh, mỗi thứ 40g sao như màu ngà voi, tán bột, dùng 40g Tế trà sắc còn 1 chén, để ngoài sương một đêm, lấy 12g phết vào, chừa lỗ cho ra mủ (Nhiếp Sinh Diệu Dụng Phương).

Bài 18. Trị băng huyết, hạ huyết:

  • Hòe hoa………….40g,
  • Tông lư thán……8g,
  • Muối 1 ít, sắc với 3 chén nước còn nửa chén, uống (Trích Huyền Phương).

Bài 19. Trị bạch đới không dứt:

  • Hòe hoa (sao),
  • Mẫu lệ nung, các vị bằng nhau tán bột.
  • Mỗi lần uống 12g với rượu (Trích Huyền Phương).

Bài 20. Trị thổ huyết:

  • Hòe hoa…………………12g,
  • Bách thảo sương……..4g.
  • Tán bột, uống với nước sắc rễ Tranh (Mao căn) (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Bài 21. Trị trường phong hạ huyết:

  • Hòe hoa, Trắc bá (đốt cháy), Chỉ xác đều 12g,
  • Kinh giới………………8g.
  • Tán bột uống với nước hoặc làm thang tể. (đại tiện ra máu) (Hòe Hoa Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Cách sử dụng hoa hòe làm trà

  • Hoa hòa sao vàng 30 – 40g hãm với nước sôi.
  • Dùng sau bữa ăn từ 20 -30 phút, nên dùng khi còn ấm.
  • Không để trà qua đêm mà uống đến đâu pha đến đó.

Đối tượng sử dụng: 

  • Người mắc bệnh cao huyết áp mà mao mạch dễ vỡ, đứt, để đề phòng đứt mạch máu ở não.
  • Bệnh nhân máu nhiễm mỡ, người thừa cân, béo phì.
  • Điều trị xuất huyết cấp tính do viêm thận.
  • Điều trị xuất huyết ở phổi mà không rõ nguyên nhân.
  • Hoa hòe còn có tác dụng rất tốt trong việc phòng ngừa bệnh tai biến và tốt cho tim mạch.

Kiêng kỵ:

+ Không có thực hỏa, thực nhiệt cấm dùng. Kỵ sắt (Trung Dược Học).

+ Bệnh do hư hàn, không có nhiệt: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Đọc thêm

Sản phẩm liên quan
Giá bán: 70,000
03/06/2017
phản hồi
Giá bán: 135,000
15/10/2017
phản hồi
Giá bán: 1,650,000
08/10/2017
phản hồi
Giá bán: 0
11/09/2018
phản hồi
Giá bán: 0
01/09/2018
phản hồi
Giá bán: 0
29/08/2018
phản hồi

MỜI BẠN ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN